Thứ Bảy, 16 tháng 8, 2014

Xử lý nước thải ở các đô thị nhỏ

xu ly nuoc thai do thi
Nước ta đang trong quá trình hội nhập và thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong bối cảnh đó, các đô thị và khu công nghiệp là những nơi có lượng nước thải tập trung cao nhất - đây là nguồn ô nhiễm ảnh hưởng lớn đến đời sống cũng như sự phát triển bền vững của đô thị. Giải quyết tốt vấn đề thoát nước và xử lý nước thải (XLNT) là một yêu cầu cấp bách nhằm bảo vệ môi trường, đảm bảo sức khỏe cho người dân cũng như mỹ quan cho đô thị. Tuy nhiên, đầu tư cho vấn đề này một cách triệt để và đồng bộ đòi hỏi một lượng vốn rất lớn mà trong điều kiện kinh tế của nước ta hầu như chưa đáp ứng được. Vì vậy, việc nghiên cứu, lựa chọn được các công nghệ XLNT phù hợp, với chi phí thấp, tận dụng được các điều kiện tự nhiên của địa phương (đặc biệt đối với các đô thị nhỏ), dễ quản lý vận hành mà vẫn đạt được hiệu quả xử lý theo yêu cầu là điều hết sức thiết thực.

Thứ Hai, 4 tháng 8, 2014

Xử lý nước thải thủy sản bằng công nghệ mới AAO & MBBR

Xử lý nước thải thủy sản là điều bắt buộc đối với các nhà máy chế biến thủy sản. Chế biến thủy sản là khâu cuối cùng, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm thủy sản trước khi đưa sản phẩm ra thị trường tiêu thụ
Những sản phẩm thủy sản chế biến không những phục vụ nhu cầu tiêu thụ nội địa mà còn được xuất khẩu, đem về ngoại tệ cho đất nước. Những bước thăng trầm của ngành này luôn gắn liền với nhịp sống chung của nền kinh tế đất nước, nhất là công cuộc đổi mới toàn diện đất nước.Song song đó, các nhà máy chế biến thủy sản đã có những đóng góp thiết thực vào việc bảo vệ môi trường như xây dựng hệ thống XLNT, hệ thống xử lý khí thải

Chế biến thủy sản xuất khẩu


1. ĐẶC TRƯNG CỦA NƯỚC THẢI NGÀNH CHẾ BIẾN THỦY SẢN

Nước thải ngành chế biến thủy sản chứa phần lớn các chất thải hữu cơ có nguồn gốc từ động vật và có thành phần chủ yếu là protein và các chất béo. Trong nước thải chứa các chất như cacbonhydrat, protein, chất béo… khi xả vào nguồn nước sẽ làm suy giảm nồng độ oxy hòa tan trong nước do vi sinh vật sử dụng ôxy hòa tan để phân hủy các chất hữu cơ. Các chất rắn lơ lửng làm cho nước đục hoặc có màu, nó hạn chế độ sâu tầng nước được ánh sáng chiếu xuống, gây ảnh hưởng tới quá trình quang hợp của tảo, rong rêu…

Các chất dinh dưỡng (N,P) với nồng độ cao gây ra hiện tượng phú dưỡng nguồn nước, rong tảo phát triển làm suy giảm chất lượng nguồn nước. Các vi sinh vật đặc biệt vi khuẩn gây bệnh và trứng giun sán trong nguồn nước là nguồn ô nhiễm đặc biệt. Con người trực tiếp sử dụng nguồn nước nhiễm bẩn hay qua các nhân tố lây bệnh sẽ truyền dẫn các bệnh dịch cho người như bệnh lỵ, thương hàn, bại liệt, nhiễm khuẩn đường tiết niệu, tiêu chảy cấp tính… Nồng độ ô nhiễm của nước thải tinh thủy sản thể hiện cụ thể ở bảng sau

Bảng kết quả phân tích chất lượng nước thải chế biến thủy sản




2. THUYẾT MINH QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ

Nước thải từ các phân xưởng sản xuất theo mạng lưới thoát nước riêng dẫn đến bể lắng cát được đặt âm sâu dưới đất, ở đây sẽ giữ lại cát và các chất rắn lơ lửng có kích thước lớn để đảm bảo sự hoạt động ổn định của các công trình xử lý tiếp theo. Trước khi vào bể lắng cát, nước thải được dẫn qua thiết bị lọc rác thô nhằm loại bỏ các chất rắn có kích thước lớn như: giấy, gỗ, nilông, lá cây … ra khỏi nước thải. Nước thải ra khỏi bể lắng cát sẽ đến hầm tiếp nhận rồi bơm qua máy sàng rác để loại bỏ các chất rắn có kích thước lớn hơn 1mm. Sau đó nước tự chảy xuống bể điều hòa.